Viêm phổi bệnh viện: Nguyên nhân, triệu chứng, cách điều trị hiệu quả

Rate this post

Viêm phổi bệnh viện đang là căn nguyên gây tử vong hàng đầu trong các bệnh nhiễm trùng hô hấp. Nguyên nhân gây bệnh là gì? Triệu chứng ra sao và cách điều trị như thế nào? Để giải đáp cho những câu hỏi trên, mời bạn đọc cùng tham khảo bài viết sau đây.

Viêm phổi bệnh viện là gì? Có nguy hiểm không?

Viêm phổi bệnh viện là tình trạng viêm phổi xuất hiện sau 48 giờ nhập viện mà trước đó không có triệu chứng nhiễm trùng hô hấp, không có tổn thương trên X – quang.

Viêm phổi bệnh viện là gì? Có nguy hiểm không?
Viêm phổi bệnh viện là gì? Có nguy hiểm không?

Như vậy, khác với viêm phổi cộng đồng, trường hợp này không có thời gian ủ bệnh trước khi nhập viện. Viêm phổi tại bệnh viện bao gồm viêm phổi mắc phải bệnh viện, viêm phổi thở máy, viêm phổi liên quan đến chăm sóc y tế. Trong đó các trường hợp viêm phổi thở máy chiếm tỷ lệ rất cao.

Theo thống kê, số ca tử vong do tình trạng này gây ra chiếm khoảng 40 – 70 %, cao nhất trong số các loại nhiễm khuẩn tại bệnh viện.

Không chỉ vậy, viêm phổi tại bệnh viện làm kéo dài thời gian nằm viện thêm 6 ngày, tiêu tốn chi phí trung bình 25.000 USD/ca. Tình trạng này ngày càng trở thành một vấn đề nan giải khi rất khó để phòng ngừa, chẩn đoán và điều trị bệnh. 

Nguyên nhân gây viêm phổi bệnh viện

Các tác nhân gây ra tình trạng viêm phổi ở bệnh viện chủ yếu là vi khuẩn, ít khi là nấm hay vi – rút trừ trường hợp bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch. Bệnh viện là môi trường có rất nhiều tình trạng viêm nhiễm, hệ vi khuẩn ở đây cũng rất phát triển, hầu hết là những thủ phạm tương đối sừng sỏ. Theo các nghiên cứu dịch tễ, tác nhân gây bệnh viêm phổi bệnh viện chủ yếu là:

  • Các vi khuẩn Gram (-) hiếu khí như:  Acinetobacter spp, Trực khuẩn mủ xanh, Enterobacter spp, Klebsiella spp,…
  • Một số vi khuẩn Gram (+): Streptococcus pneumoniae, Tụ cầu vàng,…
  • Viêm phổi xuất hiện sớm thường do các chủng: Haemophilus influenzae, Streptococcus pneumoniae, MSSA.
  • Viêm phổi xuất hiện muộn thường gây ra bởi các chủng kháng thuốc như: Tụ cầu vàng kháng methicilin, Trực khuẩn mủ xanh, Acinetobacter spp.

Con đường xâm nhập của những vi khuẩn này chủ yếu từ:

  • Dịch trào ngược từ dạ dày – thực quản, đờm nhầy ở hầu họng. Bệnh nhân bị hôn mê, khiến các chất dịch này ứ lại tại đường hô hấp, đây là ổ chứa nhiều vi khuẩn rất dễ tràn vào phổi gây viêm nhiễm tại đây.
  • Các thiết bị hô hấp: bình oxy, dụng cụ gây mê cũng là con đường xâm nhập hay gặp của các vi khuẩn.
  • Người nhà bệnh nhân, nhân viên y tế không đảm bảo vệ sinh cũng trở thành nguồn lây bệnh cho người bệnh.
  • Các dụng cụ, dây truyền dịch cho bệnh nhân không đảm bảo điều kiện vô khuẩn vô tình trở thành nguyên nhân gây bệnh qua đường máu.

Triệu chứng của viêm phổi bệnh viện

Sốt cao, rét run, rối loạn ý thức

Triệu chứng điển hình của bệnh
Triệu chứng điển hình của bệnh

Bệnh nhân có sốt cao trên 39 oC liên tục hoặc ngắt quãng , có thể có rét run, ớn lạnh. Nếu sốt quá cao có thể gây sốc, co giật rất nguy hiểm. Kèm theo sốt bệnh nhân có biểu hiện mất nước, vã mồ hôi, môi khô, niêm mạc nhạt, lưỡi bẩn. Ngoài ra, khi bệnh tiến triển nặng, bệnh nhân có rối loạn ý thức, tinh thần vật vã, mơ hồ.

Ho, có đờm, màu sắc của đờm thay đổi

Người bệnh thường ho rất nhiều, ho có đờm màu vàng, xanh hoặc đờm có máu, mủ, mùi hôi. Bệnh nhân hôn mê có thể bị sặc đờm do không có phản xạ ho.

Khó thở, đau tức ngực

Chất dịch cùng xác các tế bào vi khuẩn ứ lại tại đường hô hấp gây giảm trao đổi không khí, khó thở, đau tức ngực. Bệnh nhân phải tăng nhịp thở, thở nông, gấp để bù lượng oxy bị thiếu hụt.

Bệnh nhân mắc viêm phổi bệnh viện thông thường có thể trạng yếu, mắc nhiều bệnh, do đó rất khó để phân biệt với các bệnh khác vì triệu chứng khá lu mờ. Do đó bác sĩ thường căn cứ vào hình ảnh X – quang, chỉ số bạch cầu, CRP để chẩn đoán chính xác.

Cách điều trị bệnh hiệu quả

Điều trị nguyên nhân

Các phác đồ kháng sinh sẽ được chỉ định để tiêu diệt vi khuẩn tại ổ nhiễm trùng. Việc lựa chọn kháng sinh phụ thuộc vào mức độ nặng, tuổi, nguy cơ nhiễm vi khuẩn đa kháng. Ban đầu việc điều trị theo phác đồ kinh nghiệm với các kháng sinh phổ rộng.

  • Viêm phổi ở bệnh viện sớm, thường ưu tiên đơn trị liệu với các cephalosporin III, IV; beta lactam và chất ức chế beta lactamase, fluoroquinolone.
  • Viêm phổi muộn mức độ nhẹ, vừa: Tăng liều của các thuốc trên, có thể phối hợp với vancomycin nếu nghi ngờ nhiễm MRSA.
  • Viêm phổi bệnh viện nặng: Ưu tiên kháng sinh tác dụng trên Pseudomonas aeruginosa (ceftazidime, cefepim, amikacin, ciprofloxacin), vancomycin,…

Các kháng sinh được dùng theo đường tĩnh mạch, thông thường thời gian điều trị  từ 7 – 10 ngày. Bệnh nhân cần được theo dõi chặt chẽ biểu hiện lâm sàng, khi có cải thiện hoặc có kết quả kháng sinh đồ có thể cân nhắc thu hẹp phổ tác dụng.

Điều trị triệu chứng

Hầu hết bệnh nhân được viêm phổi bệnh viện đều ở trong tình trạng yếu nên việc đầu tiên cần làm là hồi sức tích cực, cải thiện các chỉ số hô hấp, tuần hoàn. Các bệnh nhân nặng cần được thở oxy, bồi phụ thể tích tuần hoàn để ổn định huyết mạch.

Ngoài ra, nhân viên y tế và người nhà bệnh nhân cần lưu ý tuân thủ vệ sinh sạch sẽ để tránh lây nhiễm chéo. Bệnh nhân hôn mê lâu ngày nên được nằm ở tư thế để cao đầu, vỗ rung hàng ngày để tránh bị sặc đờm, dịch dạ dày.

Bài viết trên đây đã cung cấp những thông tin cơ bản về bệnh viêm phổi bệnh viện. Nắm chắc được nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị sẽ giúp bạn chủ động trong việc phòng tránh và đẩy lùi bệnh. Hy vọng với những thông tin này sẽ giúp ích cho bạn trong việc chăm sóc sức khỏe của mình.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *